Giai-Nghia-Thien-can-va-dia-chi-la-gi-tu-a-z-phong-thuy-trang-suc-shimiry

Thiên Can và Địa Chi là gì ? Giải nghĩa từ A đến Z

Cổ nhân sáng lập hệ thống ký hiệu thiên can địa chi gán cho mỗi ký hiệu một hàm nghĩa nhất định, đồng thời gắn những hàm nghĩa này với các ký hiệu khác như âm dương ngũ hành, hình thành nên một hệ thống ký hiệu để nhận thức thế giới.

A. Thiên can là gì và ý nghĩa của thiên can trong phong thủy học?

Thiên can chính là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Trong đó có một nửa là can dương và một nửa là can âm.

01. Thuộc tính âm dương ngũ hành của thiên can:

Giáp (Dương) | Ất (Âm) thuộc Mộc
Bính (Dương) | Đinh (Âm) thuộc hỏa
Mậu (Dương) | Kỷ (Âm) thuộc Thổ
Canh (Dương) | Tân (Âm) thuộc Kim
Nhâm (Dương) | Quý (Âm) thuộc Thủy

Vong-tron-tuong-sinh-trong-ngu-hanh-phong-thuy-trang-suc-shimiry
Vòng tròn Tương sinh – Tương Khắc

02. Thiên can thuộc bốn mùa:

Giáp | Ất thuộc mùa xuân
Bính | Đinh thuộc mùa hạ
Mậu | Kỷ thuộc tứ quý
Canh | Tân thuộc mùa thu
Nhâm | Quý thuộc mùa đông.

03. Thiên can thuộc phương vị:

Giáp | Ất thuộc Đông
Bính | Đinh thuộc Nam
Mậu | Kỷ thụộc Trung ương
Canh | Tân thuộc Tây
Nhâm | Quý thuộc Bắc

04. Thiên can tương hợp:

Giáp (Dương mộc) | Kỷ (Âm thổ) hợp Thổ
Ất (âm mộc) | Canh (dương kim) hợp Kim
Bính (dương hỏa) | Tân (âm kim) hợp Thủy
Đinh (âm hỏa) | Nhâm (dương thủy) hợp Mộc
Mậu (dương thổ) | Quý (âm thủy) hợp Hỏa.

05. Thiên can tương khắc:

Giáp (mộc) (dương) khắc Mậu(thổ) (dương)
Ất (mộc) (âm) khắc Kỷ (thổ) (âm)
Bính (hỏa) (dương) khắc Canh (kim) (dương)
Đinh (Hỏa) (âm) khắc Tân (kim) (âm)
Mậu (thổ) (dương) khắc Nhâm (thủy) (dương)
Kỷ (thổ) (âm) khắc Quý (thủy) (âm)
Canh (kim) (dương) khắc Giáp (mộc) (dương)
Tân (kim) (âm) khắc Ất (mộc) (âm)
Nhâm (thủy) (dương) khắc Bính (hỏa) (dương)
Quý (thủy) (âm) khắc Đinh (hỏa) (âm)

06. Ý nghĩa của thiên can

Dựa vào sách “Quần thư thảo dị” thì 10 thiên can có ý nghĩa như sau:

Giáp có nghĩa là mở, tức chỉ dấu hiệu vạn vật tách ra.
Ất có nghĩa là kéo, tức chỉ vạn vật lúc ban đầu được kéo lên.
Bính có nghĩa là đột nhiên, chỉ vạn vật đột nhiên lộ ra.
Đinh có nghĩa là mạnh, tức là chỉ vạn vật bắt đầu mạnh lên.
Mậu có nghĩa là rậm rạp, tức chỉ vạn vật tức chỉ vạn vật xum xuê.
Kỷ có nghĩa là ghi nhớ, tức chỉ vạn vật bắt đầu có hình để phân biệt.
Canh có nghĩa là chắc lại, tức chỉ vạn vật bắt đầu có quả.
Tân có nghĩa là mới, tức chỉ vạn vật đều có sự thu hoạch.
Nhâm có nghĩa là gánh vác, tức chỉ dương khí chịu việc nuôi dưỡng vạn vật.
Quý có nghĩa là đo, đoán được, chỉ sự vật đã có thể đo lường được.

Thien-can-Dia-chi-Phoi-hop-Ngu-Hanh-Shimiry-Phong-Thuy
Thiên Can Phối Ngũ hành

Dựa vào ý nghĩa của từng thiên can có thể thấy rõ mười thiên can không liên quan gì đến mặt trời mọc, lặn. Mà ngược lại chỉ có chu kỳ tuần hoàn của mặt trời mới có sự ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh sôi phát triển của vạn vật

07. Thiên can có ý nghĩa đoán vận mệnh

Trong phong thủy thiên can là yếu tố cực kỳ quan trọng để dự đoán vận mệnh của con người. Ngày sinh của mỗi con người, trụ ngày do can ngày và chi ngày hợp thành. Can ngày vượng tướng, và trong trường hợp không bị khắc hại thì bản tính của can ngày càng rõ ràng. Đồng thời có thể dùng nó làm tiêu chí để dự đoán đánh giá tính tình người ấy.

07.a. Giáp (mộc) thuộc dương.

Nói chung là để chỉ cây to ở đại ngàn, mang tính chất cường tráng. Giáp mộc là bậc đàn anh trong các loài mộc, còn có nghĩa là cương trực, có ý thức kỷ luật.

07.b. Ất (mộc) thuộc âm.

Chỉ những cây nhỏ, cây cỏ, có tính chất mềm yếu. Trái ngược với Giáp (mộc) thì Ất mộc lại là bậc em gái trong các loài mộc, còn có nghĩa là cẩn thận, hay cố chấp.

07.c. Bính (hỏa) thuộc dương.

Chỉ mặt trời, nóng và rất sáng. Bính hỏa là anh cả của hỏa, có nghĩa là hừng hực, bồng bột, nhiệt tình, hào phóng. Còn có nghĩa là hợp với những hoạt động xã giao, nhưng cũng dễ bị hiểu lầm là thích phóng đại, hiếu danh.

07.d. Đinh (hỏa) thuộc âm.

Có nghĩa là lửa của ngọn đèn, của lò bếp. Thế của ngọn lửa không ổn định, gặp thời thì lửa mạnh, không gặp thời thì lửa yếu. Đinh hỏa là em gái của hỏa, có tính cách bên ngoài trầm tĩnh, bên trong sôi nổi.

07.e. Mậu (thổ) thuộc dương.

Chỉ đất ở vùng đất rộng, đất dày, phì nhiêu. Còn chỉ đất ở đê đập, có sức ngăn cản nước lũ của sông. Mậu thổ là anh cả của thổ, có nghĩa coi trọng bề ngoài, giỏi giao thiệp, có năng lực xã giao. Nhưng cũng dễ bị mất chính kiến mà thường chìm lẫn trong số đông.

07.f. Kỷ (thổ) thuộc âm.

Nói về đất ruộng vườn, không được phẳng rộng và phì nhiêu như mậu thổ nhưng thuận lợi cho trồng trọt. Kỷ thổ là em gái của thổ, nói chung tính cánh chi tiết, cẩn thận, tỷ mỉ nhưng không có sự bao dung.

07.g. Canh (kim) thuộc dương.

Nói chung chỉ sắt thép, dao kiếm, khoáng sản, tính chất cứng rắn. Canh kim là anh cả của kim, có nghĩa nếu là người có tài về về văn học, nếu là vật thì có ích. Có tài làm kinh tế.

07.h. Tân (kim) thuộc âm.

Chỉ ngọc châu, đá quý, vàng cám. Tân kim là em giá của kim, nó có thể mày mò khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành mọi việc lớn, đồng thời cũng có nghĩa là ngoan cố.

07.i. Nhâm (thuỷ) thuộc dương.

Chỉ thủy của biển cả. Nhâm thủy là anh của thuỷ, nó có nghĩa là xanh trong, có tính chất khoan dung, hoà phóng. Đặc biệt có khả năng đùm bọc nhưng ngược lại cũng có tính ỷ lại hoặc chậm chạp, vô tư không lo lắng.

07.j. Quý (thủy) thuộc âm.

Chỉ nước của mưa, còn có nghĩa là ôm ấp, mầm mống bên trong. Nếu Nhâm Thủy là biển cả thì Quý thủy là em gái của thủy, có tính cách chính trực, cần mẫn, dù gặp hoàn cảnh khó khăn cũng cố gắng mở đường thoát khỏi.

B. Địa chi là gì và ý Nghĩa của địa chi trong phong thủy học?

01. Lý giải Địa chi là gì?

Gồm mười hai địa chi như sau: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Trong đó có một nửa là chi dương và một nửa là chi âm.

Địa chi dương gồm: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất
Địa chi âm gồm: Sửu, Hợi, Dậu, Mùi, Tỵ, Mão.

Nguyệt lệnh trong địa nguyên (chi tháng) có tác dụng mang tính chất quyết định đối với vượng suy đắc địa của nhật nguyên

02. Gắn 12 con vật vào 12 địa chi

Ngày xưa con người sống trong một quần thể gồm rất nhiều con vật như trâu, bò, lợn, gà … Vì thế con người có thể quan sát một cách tinh tế và nắm rõ tính cách, thói quen liên quan đến thời gian trong ngày của từng con vật.

Nên để dễ nhớ và gần gũi gắn với đời thường người xưa đã dùng 12 con vật (cầm tinh con giáp) để biểu thị và gắn vào 12 địa chi. Và cũng bắt nguồn từ việc sử dụng 12 địa chi nên ngày đêm được chia làm đôi, ngày 12 giờ và đêm 12 giờ.

03. Tính cách, thói quen của 12 linh vật trong địa chi

– Giờ Dần (3h – 5h): Là khoảng thời gian hổ đi săn mồi ở trong rừng trở về hang nghỉ ngơi, những người thợ săn đã xác nhận việc này.

– Giờ Mão (5h -7h): Là khoảng thời gian mèo tìm nơi nghỉ ngơi sau một đêm dài đi săn chuột.

– Giờ Thìn (7h – 9h): Đây là khoảng thời gian mà con người cảm giác thoải mái nhất, làm việc năng suất nhất. Nên người xưa đã lấy con rồng – một hình tượng cao quý làm hình tượng.

– Giờ Tỵ (9h – 11h): Là thời gian rắn thường ẩn mình vào hang.

– Giờ Ngọ (11h – 13h): Ngày xưa con ngựa là phương tiện luân chuyển hàng hóa chủ yếu Cho nên khoảng thời gian giữa trưa ngựa phải làm việc không nghỉ ngơi đến mệt nhọc, vất vả nhất trong ngày.

– Giờ Mùi (13h – 15h): là giờ dê ăn cỏ.

– Giờ Thân (15h – 17h): Là khoảng thời gian bầy khỉ tìm về hang ổ sau khi đã kiếm ăn trong rừng xong.

– Giờ Dậu (17h – 19h): Là khoảng thời gian cả đàn gà nhà tập tụ quanh chuồng trở về nơi trú ẩn thân thuộc của chúng sau một ngày kiếm ăn.

– Giờ Tuất (19h -21h): Đây là thời gian mà chó nhà hoạt động sủa nhiều nhất trong ngày.

– Giờ Hợi (21h – 23h): Là giờ lợn bắt đầu bước vào giấc ngủ ngon.

04. Ý nghĩa của 12 địa chi

Mười hai địa chị là để miêu tả chu kỳ vận động của mặt trăng. Theo như sách “Quần thư khảo dị” thì 12 địa chi có nghĩa như sau:

Tí có nghĩa là tu bổ nuôi dưỡng, tức là mầm mống của vạn vật được nảy nở nhờ dương khí.

Sửu có nghĩa là kết lại, tức là các mầm non tiếp tục lớn lên.

Dần có nghĩa là đổi dời, dẫn dắt, tức là chỉ mầm vừa mới nứt đã vươn lên khỏi mặt đất.

Mão có nghĩa là đội, tức là vạn vật đội đất mà lên.

Thìn có nghĩa là chấn động, tức mọi vật qua chấn động mà lớn lên.

Tị có nghĩa là bắt đầu, tức chỉ vạn vật đến đây đã có sự bắt đầu.

Ngọ có nghĩa là bắt đầu tỏa ra, tức chỉ vạn vật bắt đầu mọc cành lá

Mùi có nghĩa là ám muội, tức chỉ âm khí đã bắt đầu có, vạn vật hơi suy giảm.

Thân có nghĩa là thân thể, tức chỉ thân thể vạn vật đều đã trưởng thành.

Dậu có nghĩa là già, tức chỉ vạn vật đã già dặn, thành thục.

Tuất có nghĩa là diệt, tức chỉ vạn vật đều suy diệt.

Hợi có nghĩa là hạt, tức chỉ vạn vật thu tàng về thành hạt cứng.

thuoc-tinh-ngu-hanh-cua-thien-can-dia-chi-blog-phong-thuy-shimiry
Thuộc tính âm đương ngũ hành của Thiên can – Địa chi

Do đó chúng ta có thể thấy mười hai địa chi có sự liên quan đến sự tiêu, trưởng âm dương của mặt trăng. Ngược lại chu kỳ tuần hoàn của mặt trăng cũng có sự ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh sản của vạn vật.

05. Địa chi phân chia âm dương

Địa chi được phân chia thành 6 chi âm và 6 chi dương. Mỗi chi âm dương đều có tính chất khác nhau cụ thể như sau:

05.a. Tính chất của chi dương

Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất: thường là động, cường tráng, do vậy cát hung đều ứng nghiệm nhanh. Tuy nhiên khi gặp suy sẽ có tai họa xảy ra nhanh hơn.

5.b. Tính chất của chi âm

Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi: thường có tính chất mềm dẻo, cát hung thường ứng nghiệm chậm

06. Địa chi thuộc ngũ hành

Dần Mão thuộc Mộc
Tỵ Ngọ thuộc Hỏa
Thân Dậu thuộc Kim
Hợi Tý thuộc Thủy
Thìn, Tuất, Sửụ, Mùi thuộc Thổ.

07. Địa chi thuộc phương vị

Dần Mão thuộc Đông
Tỵ Ngọ thuộc Nam
Thân Dậu thuộc Tây
Hợi Tý thuộc Bắc
Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc thổ bốn phương.

08. Địa chi lục hợp

Tý Sửu hợp Thổ
Dần Hợi họp Mộc
Mão Tuất họp Hỏa
Thìn Dậu hợp Kĩm
Tỵ Thân hợp Thủy
Ngọ Mùi họp Thổ.

09. Địa chi tam hợp

Hợi Mão Mùi tam hợp Mộc
Dậu Ngọ Tuất tam hợp Hỏa
Tỵ Dậu Sửu tam hợp Kim
Thân Tý Thìn tam hợp Thủy.

10. Địa chi tam hội

Dần Mão Thìn phương Đông mộc.
Tỵ Ngọ Mùi phương Nam hỏa.
Thân Dậu Tuất phương Tây kim.
Hợi Tý Sửu phương Bắc thủy.

11. Địa chi bán tam hợp

  • Bán hợp sinh: Hợi Mão mộc, Dần Ngọ hỏa, Tỵ Dậu kim, Thân Tý thủy.
  • Bán hợp mộ: Mão Mùi mộc, Ngọ Tuất hỏa, Dậu Sửu kim, Tý Thìn thủy.

12. Địa chi lục xung

Tý Ngọ xung
Sửu Mùi xung
Dần Thân xung
Mão Dậu xung
Thìn Tuất xung
Tỵ Hợi xung.

13. Địa chi tương hình

  • Dần hình Tỵ, Tỵ hình Thân, Thân hình Dần còn gọi là vô ơn chi hình.
  • Mùi hình Sửu, Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi gọi là trì thế chi hình.
  • Tý hình Mão, Mão hĩnh Tý gọi là vô lễ chi hình
  • Thìn hình Thìn, Ngọ hình Ngọ, Dậu hình Dậu, Hợi hình Hợi gọi là tự hình.

14. Địa chi tương phá

Tý Dậu phá
Ngọ Mão phá
Thân Tỵ phá
Dần Hợi phá
Thìn Sửu phá
Tuất Mùi phá

15. Địa chi tương hại

Tý Mùi hại
Sửu Ngọ hại
Dần Tỵ hại
Mão Thìn hại
Thân Hợi hại
Dậu Tuất hại.

C. Kết luận thiên can địa chi

Như vậy mười thiên can và mười hai địa chi được xây dựng từ sự nhận thức của con người về đặc điểm hoạt động của mặt trời và mặt trăng. Cho nên người xưa lấy mặt trời làm đại diện, trời làm dương, còn mặt trăng, đất làm âm theo thuyết âm dương. Do đó chúng ta có thể lý giải được vì sao người ta đã lấy 10 thiên can phối với trời, 12 địa chi phối với đất. Chính vì điều này nên mới có tên gọi “thiên can, địa chi”.

Bài viết đã được tạo 29

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài liên quan

Bắt đầu nhập từ khoá bên trên và nhấp enter để tìm kiếm. Nhấn ESC để huỷ.

Trở lên trên